Sáng kiến Vài kinh nghiệm về giải bài tập định lượng môn Vật lý ở trường Trung học cơ sở
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến Vài kinh nghiệm về giải bài tập định lượng môn Vật lý ở trường Trung học cơ sở", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến Vài kinh nghiệm về giải bài tập định lượng môn Vật lý ở trường Trung học cơ sở

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này tôi xin chân thành cảm ơn: - Phòng Giáo dục huyện Đăkpơ đã phát động phong trào thi đua viết sáng kiến kinh nghiệm, nhằm khuyến khích chúng tôi những thầy cô giáo – nghiên cứu chuyên môn, tích lũy kinh nghiệm ngày càng làm giàu vốn sống, kinh nghiệm nghề nghiệp để không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục. Ban giám hiệu trường THCS Chu Văn An, bạn bè đồng nghiệp đã nhiệt tình hướng dẫn góp ý cho sáng kiến kinh nghiệm của tôi. Trang 1 trong công thức để học sinh biết cách áp dụng mỗi công thức vào giải từng bài tập cụ thể. IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 1. Những cơ sở lý luận khoa học về giải bài tập định lượng: Việc dạy học vật lý không những hình thành cho học sinh những tri thức về các hiện tượng vật lý, kỹ năng và kỹ xảo nhất định mà còn phải đảm bảo tối đa sự phát triển trí tuệ, làm cho hoạt động tư duy của học sinh phát triển tích cực, độc lập, sáng tạo. Việc giúp học sinh nắm được cách giải các bài tập định lượng môn vật lý có vai trò rất quan trọng trong dạy học môn Vật lý. Thông qua hoạt động này giúp rèn luyện kỹ năng tính toán, rèn luyện sự phát triển độc lập, sáng tạo của học sinh. 2. Thực trạng việc giải bài tập vật lý của học sinh: Nghiên cứu điều tra thực trạng của học sinh trong học vật lý chưa chủ động trong giải bài tập, chưa nắm được bản chất của các hiện tượng vật lý, chưa biết cách áp dụng toán học vào giải bài tập vật lý, còn sợ sệt khi cho bài tập về nhà, chưa tự giải bài tập ở nhà làm bài tập ở nhà còn mang tính đối phó với việc kiểm tra của giáo viên. V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Vì có những hạn chế về nguồn lực và thời gian nên đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi các lớp 8, 9 của Trường THCS Chu Văn An – Đakpơ – Gia Lai. VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: 1/ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm dạy học. 2/ Phương pháp điều tra, phân tích, so sánh. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ sau; - Phương pháp trò chuyện với đồng nghiệp, học sinh. - Phương pháp đọc sách và tài liệu tham khảo VII. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU: Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phục vụ công tác giảng dạy học sinh lớp 8, 9 của trường THCS Chu Văn An – huyện Đakpơ- tỉnh Gia Lai VIII. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1/ Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy lớp 8, 9 môn vật lý 2/ Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS 3/ Đổi mới phương pháp dạy và giải bài tập vật lý trung học cơ sở 4/ Sách giáo khoa và sách bài tập vật lý lớp 7,8,9 B. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN: 1. Mục tiêu và ý nghĩa: - Bài tập vật lý giúp học sinh hiểu, khắc sâu thêm phần lý thuyết và đặc biệt giúp học sinh có phương pháp giải bài tập. Biết vận dụng kiến thức vật lý Trang 3 b. Vẽ sơ đồ một bóng đèn ở cầu tháng sao cho có thể tắt, mở ở hai đầu trên và dưới cầu thang. 2.4 Bài tập thí nghiệm: Là những bài tập khi giải phải tiến hành những thí nghiệm hoặc quan sát kiểm chứng cho lời giải lý thuyết hoặc tìm ra số liệu cụ thể. Bài tập thí nghiệm có tác dụng nâng cao chất lượng học tập, gây hứng thú gắn học với hành, lý thuyết với thực tiễn kích thích tính tích cực, tự lập, rèn luyện trí thông minh sáng tạo. Các bài tập thí nghiệm vật lý phải xây dựng bằng những vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền, dễ làm, mức độ chính xác về định lượng cũng vừa phải, phải coi trọng về độ an toàn, tính khoa học. Ví dụ: Hãy dùng các dụng cụ đo đơn giản như thước dây và đồng hồ để xác định vận tốc trung bình của người đi bộ. 2.5 Bài tập vui: Giờ bài tập dễ trở nên khô khan, mệt mỏi gây nhiều ức chế cho học sinh khi phải sử dụng nhiều những số liệu và các phép tính toán. Bài tập vui sẽ giúp học sinh bớt căng thẳng, niềm vui ở các bài tập vật lý phải mang tính trí tuệ cao. Ví dụ: Có một số kẹo sôcôla hình cầu, hình trụ và hình nón được đặt trên ba cái cân như hình vẽ. Những cái kẹo hình giống nhau có khối lượng bằng nhau Hãy nghĩ cách chia số kẹo trên thành hai phần vừa có khối lượng bằng nhau, vừa có số lượng bằng nhau: Ta chuyển hai kẹo hình cầu từ cân A và hai kẹo hình cầu từ cân C sang hai đĩa cân B thì cân B vẫn thăng bằng. Còn lại ở cân A và cân C có tổng số hai kẹo hình trụ và bốn kẹo hình nón, chia đôi cho mỗi đĩa B. 2.6 Bài tập trắc nghiệm: Câu hỏi trắc nghiệm có nhiều phương án lựa chọn để trả lời, do đó có thể đo được những khả năng khác nhau về giá trị nội dung và độ tin cậy cao vì số câu hỏi nhiều hơn trong cùng thời gian làm bài của học sinh. Phương pháp học tập và làm bài trắc nghiệm mang tính khách quan nâng mức biết, mức hiểu, mức áp dụng, mức phân tích, mức tổng hợp lên cao hơn. Phải rèn luyện cho học sinh có thói quen đọc nhanh, làm nhanh. Câu hỏi bài tập tuy ngắn nhưng số liệu câu hỏi lại nhiều, thường hỏi rải khắp chương trình nên phải học hết, học kỹ, không thể học tủ, đoán mò đề thi. Khi làm bài phải lựa chọn phương án trả lời hợp lý nhất, nhanh nhất bài tập trắc nghiệm cũng có nhiều dạng. 2.7 Bài tập tổng hợp: Là loại bài tập có sử dụng tới kiến thức của nhiều chương, ở nhiều lớp hoặc vừa có kiến thức cơ vừa có kiến thức điện .. loại bài tập này có tính chất hệ thống hóa kiến thức đã học, được dùng nhiều cho các bài tập tổng kết chương, ôn tập, đặc biệt là sử dụng nhiều ở lớp 9 là lớp cuối cấp, đã có đầy đủ kiến thức của các lớp 6,7,8. Những bài này giúp học sinh nhớ Trang 5 và dầu thì cân không còn thăng bằng nữa, vì lúc đó lực đẩy Ác – si- mét bằng O Gọi d là trọng lượng riêng của bản chất làm hai vật dn và dd lần lượt là trong lượng riêng của nước và của dầu V1 và V2 lần lượt là thể tích của m1 và m2 Trong nước và dầu, cân thăng bằng nên hợp lực P và lực đẩy F tác dụng lên m1 và m2 bằng nhau: P1- F1 = P2- F2 dV1 – dnV1 = dV2 – ddV2 => V1(d-dn) = V2 (d-dd) Vì dn >dd suy ra d-dn V2 => P1 > P2 Vậy cân không còn cân bằng nữa. Qua ví dụ trên, ta thấy việc tìm hiểu từ dữ liệu của bài toán phân tích các hiện tượng để đi đến bản chất vật lý là việc rất quan trọng giúp ta định hướng cách giải một bài toán vật lý. III. VIỆC ÁP DỤNG GIẢI BÀI TẬP ĐỊNH LƯỢNG MÔN VẬT LÝ TRONG DẠY HỌC Với những lý luận trên, muốn giải bài tập vật lý ta cần thực hiện các bước sau: Các bước cơ bản: Bước 1: Viết tóm tắt các dữ kiện: - Đọc kỹ đề bài (khác với thuộc đề bài), tìm hiểu ý nghĩa của thuật ngữ, có thể phát biểu tóm tắt ngắn gọn chính xác. - Dùng ký hiệu tóm tắt đề bài cho gì ? hỏi gì ? thống nhất đơn vị. Dùng hình vẽ để mô tả lại tình huống, minh họa nếu cần. Bước 2: Phân tích nội dung làm sáng tỏ bản chất vật lý, xác lập mối liên hệ của các dữ kiện có liên quan tới công thức nào của các dữ kiện xuất phát và rút ra cái cần tìm xác định phương hướng và vạch kế hoạch giải Bước 3: Chọn công thức thích hợp, kế hoạch giải: thành lập các phương trình nếu cần, chú ý có bao nhiêu ẩn số thì có bấy nhiêu phương trình. Bước 4: Lựa chọn cách giải cho phù hợp, tôn trọng trình tự, phải theo để thực hiện các chi tiết của dự kiến, nhất là khi gặp những bài tập phức tạp. Thực hiện cẩn thận các phép tính. Để tránh sai số (nếu có) nên thay bằng chữ đến biểu thức cuối cùng mới thay bằng số. Bước 5: Kiểm tra, xác nhận kết quả và biện luận: - Kiểm tra lại xem trị số của kết quả có đúng không, có phù hợp với thực tế không ? Kiểm tra lại các phép tính. - Nếu có điều kiện, xem thử còn có cách giải nào khác ngắn gon hơn, hay hơn không ? Từ cách phân tích 5 bước để giải bài tập vật lý, ta có thể tóm tắt các bước giải bài tập vật lý theo sơ đồ sau: Trang 7 I’ = Iđm2 = Pđm2 : Uđm2 = 3: 6= 0,5 A Khi đó điện trở của đoạn mạch AB là R’ Theo định luật Ôm : I’= U:R’ => R’= U: I’ = 9: 0,5 = 18 Ω Mặt khác ta lại có R’ = R2 + Rx’ => R’x = R’- R2 = 18 -12 = 6 Ω Vậy để đèn Đ2 sáng bình thường thì biến trở phải có giá trị R’x = 6 Ω Ví dụ 2: Có hai điện trở R1 và R2 được mắc giữa hai điểm A và B. Khi chúng được mắc nối tiếp thì điện trở tương đương của mạch là 9 Ω; khi chúng được mắc song song thì điện trở tương đương của mạch là 2 Ω . Tính điện trở R 1 và R2 Tóm tắt: Giải: Khi R1 nối tiếp với R2 thì Rtđ= R1 +R2 = 9 (1) Khi R1 song song với R2 thì R’tđ = (R1 x R2) : (R1 + R2 ) = 2 (2) Từ (1) suy ra R2 = 9- R1 , thay vào (2) ta được : 2 R1 (9- R1): 9 = 2 => 9 R1 – R1 =18 2 R1 – 9R1 + 18 = 0 2 R1 – 2.4,5 R1 + 20,25 – 2,25 = 0 2 2 (R1 - 4,5 ) – 1,5 = 0 ( R1 – 4,5 +1,5 ) (R1 - 4,5 – 1,5) = 0 ( R1 – 3) (R1 – 6) = 0 => R1 - 3 = 0 => R1 =3 => R2 = 6 Hoặc R 1 - 6 =0 => R1 = 6 => R2 = 3 Vậy R1 = 3 Ω và R2 = 6 Ω Hoặc R1 = 6 Ω và R1 = 3 Ω IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC Trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng các bước trên để hướng dẫn học sinh giải các bài tập định lượng môn vật lý, tôi nhận thấy học sinh nắm vững lý thuyết hơn, khi giải bài tập có định hướng rõ ràng, nắm được cách giải bài tập vật lý, biết cách suy luận áp dụng công thức phù hợp, tính toán nhanh, chính xác. Trong quá trình học vật lý học sinh dần dần biết cách phát hiện chiếm lĩnh kiến thức mới và giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sống, chất lượng học tập của học sinh tăng lên. Cụ thể như sau: Năm học Dưới Trung Trung bình Khá Giỏi Ghi chú bình 2005-2006 1,1 % 31,3% 52,5% 15,1% 2006-2007 / 55,9 % 23,5% 20,6% 2007-2008 1,5 % 24,3% 42,4% 31,8 % Số liệu Trang 9 MỤC LỤC A. Phần mở đầu ................................................................................................2 B. Nội dung I. Cơ sở lý luận...................................................................................................3 II. Thực trạng về việc giải các bài tập vật lý của học sinh.................................6 III. Việc áp dụng giải các bài tập định lượng môn vật lý trong dạy học............7 IV. Kết quả đạt được..........................................................................................9 C. Kết luận.........................................................................................................10 Trang 11
File đính kèm:
sang_kien_vai_kinh_nghiem_ve_giai_bai_tap_dinh_luong_mon_vat.doc