SKKN Một số phương pháp tập luyện Bóng rổ cho học sinh nhằm tăng khả năng cho học sinh lứa tuổi 14-15

pdf 22 trang sklop9 24/12/2024 470
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số phương pháp tập luyện Bóng rổ cho học sinh nhằm tăng khả năng cho học sinh lứa tuổi 14-15", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số phương pháp tập luyện Bóng rổ cho học sinh nhằm tăng khả năng cho học sinh lứa tuổi 14-15

SKKN Một số phương pháp tập luyện Bóng rổ cho học sinh nhằm tăng khả năng cho học sinh lứa tuổi 14-15
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN ĐỐNG ĐA 
 ------------------ 
 MÃ SKKN 
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
Một số phương pháp tập luyện Bóng rổ cho học sinh nhằm 
 tăng khả năng cho học sinh lứa tuổi 14-15 
 Lĩnh vực : Giáo dục thể chất 
 Cấp học : TRUNG HỌC CƠ SỞ 
 NĂM HỌC 2017 - 2018 
 1 
 3. Phương pháp nghiên cứu 
● Phương pháp trò chuyện trao đổi 
● Phương pháp trực quan 
● Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 
● Phương pháp quan sát và thực nghiệm sư phạm 
● Phương pháp kiểm tra và đánh giá các tố chất thể lực và kĩ thuật 
 II. Nội Dung 
1. Quá trình hình thành và phát triển của môn bóng rổ. 
 Bóng rổ được hình thành từ năm 1891 ở thành phố Springfield bang 
 Massachusetts ( Mỹ) 
 Khi đó Jame Naismith ( 6/11/1861 - 28/11/1939 ) là 1 giáo viên dạy thể dục của 
 trường Christian Workers ( Hiện nay là trường cao đẳng Springfield ). Ong là 
 huấn luyện viên bóng bầu dục của trường, ông được giao nhiệm vụ soạn ra một 
 trò chơi thú vị ở trong nhà nhằm mục đích giữ các sinh viên trong những tháng 
 mùa đông. Trong thời gian khoảng 2 tuần , ông đã đưa ra những điều luật cơ bản 
 cho trò chơi mới. Jam Naismith đã đề ra 5 nguyên tắc cơ bản khi làm những điều 
 luật. 
 1. Trò chơi đựơc chơi với quả bóng tròn và chơi bằng tay. 
 2. Đấu thủ không được cầm bóng chạy. 
 3. Bất kỳ một đấu thủ nào cũng có thể chiếm một vị trí bất kỳ trên sân thi đấu ở 
 mọi thời điểm. 
 4. Không có va chạm cơ thể giữa 2 đấu thủ. 
 5. Gôn là 2 cái rổ được đặt nằm ngang cao hơn mặt sân.. 
 Ong đã chọn 2 cái thùng làm bằng gổ hồng đào và treo bên cạnh ban công của 
 gian đại sảnh để làm rổ . Chiều cao của rổ bằng chiều cao của ban công. Đây là 
 chiều cao ( 10 feet ) lý tưởng được chọn vì vậy không bao giờ được thay đổi. 
 Trận thi đấu đầu tiên được thi đấu với quả bóng đá và một người lao công ngồi 
 trên 1 cái thang để lấy lại quả bóng ở trong rổ khi một đấu thủ ném bóng vào rổ. 
 Trò chơi mới đã thành công lớn. 13 điều luật đầu tiên của Naismith đã dựa trên 
 nguyên tắc : Dùng sự khéo léo để ghi điểm thì tốt hơn làdùng sức mạnh. Những 
 3 10. Trọng tài 2 là người phân xử các đấu thủ và ghi nhớ các lỗi và thông báo cho 
trọng tài 1 khi 1 đội phạm 3 lỗi liên tiếp. Trọng tài 1 có quyền trục xuất các đấu 
thủ theo điều luật số 5. 
11. Trọng tài 1 là người phân xử bóng và có quyết định khi bóng ở trong cuộc, 
bóng ở trong sân , bóng của đội nào và theo dõi thời gian thi đấu. Trọng tài 1 sẽ 
có quyết định khi bóng vào rổ và theo dõi điểm, đối với những nhiệm vụ khác 
thông thường được thực hiện bởi trọng tài 1. 
12. Thời gian thi đấu là 2 hiệp x 15 phút, nghỉ giữa 2 hiệp là 5 phút. 
13. Đội có số điểm nhiều nhất trong trận đấu sẽ được tuyên bố thắng cuộc. Trong 
trường hợp trận đấu hòa , được sự đồng ý của 2 đội trưởng, trận đấu được tiếp tục 
cho đến khi có 1 bàn thắng được thực hiện. 
Trận thi đấu công khai đầu tiên của bóng rổ đã được thi đấu ngày 02/03/1892 giữa 
sinh viên và giáo viên tại trường cao đẳng Springfield. Đội sinh viên đã thắng 5-
1 trước hơn 200 khán giả 
Bóng rổ bắt đầu được phát triển rộng rải khắp nơi và bóng rổ được giới thiệu ở 
Mexico. 
Cũng trong năm 1892, Ong Lew Allen của trường Hartfort thuộc tiểu bang 
Connecticut đã làm cái rổ hình trụ được đan bằng dây chắc chắn đề loại bỏ cái rổ 
bằng gổ cứng của Naismith. Vòng rổ treo ở ban công và một số khán giả đã bật 
cười khi bóng nẩy ra khỏi vòng sắt. Để bóng không trúng khán giả, hai tấm bảng 
( 3,60m x 1,80m ) đã được sử dụng lần đầu tiên. 
Ngày 22/03/1893, trận thi đấu đầu tiên của nữ đã được tổ chức tại Northampton. 
Không có người đàn ông nào được xem trận đấu này. 
Quả bóng rổ đã phát triển nhanh hơn và quả bóng đá chính thức được thay thế 
bằng 1 quả bóng rổ vào năm 1894. 1 năm sau 1 tấm bảng có kích thước 1,80m x 
1,20m đã được chấp thuận. Những quả ném phạt được giới thiệu. 
1 cái vòng mới đã được sáng chế. Nó gồm 1 cái lưới được treo vào vòng sắt và có 
1 sợi dây buộc đáy lưới. Khi kéo sợi dây bóng lọt khỏi lưới và thời kỳ của cái 
thang gấp đã kết thúc. 
 5 năng và trình độ cao của đội Harlem thường gây sự thích thù, bóng rổ tiếp tục lôi 
kéo sự chú ý của mọi giới. 
Luật bóng rổ đã không được quốc tế hoá. Năm 1927, uỷ ban YMCA ( Young 
Men’s Christian Association : Hội Thanh Niên Cơ Đốc ) thế giới hợp tác với 
trường cao đẳng Springfiel đã thành lập 1 trường quốc tế về giáo dục thể chất ở 
Geneva. 
Cho đến năm 1932, chúng ta có thể chính thức nói về luật bóng rổ của Mỹ. Sự 
yên ổn của thế giới , sự nhiệt tình của những người bản xứ như là một thứ thời 
trang cộng thêm sự quan tâm của chính quyền đã ảnh hưởng nhiều đến sự phát 
triển của bóng rổ 
Ngày 18/06/1932 ở Geneva có một cuộc họp giữa các đại diện của các hiệp hội 
bóng rổ, và Liên đoàn bóng rổ nghiệp dư thế giới ( FIBA ) được thành lập bởi 8 
quốc gia. Chủ tịch đầu tiên của FIBA là Ong Leon Bouffard ( Switzeland), tổng 
thư ký là ông Renato William Jones ( Great Britain ). 
FIBA đã triệu tập 1 hội nghị để soạn thảo kỹ lưỡng luật bóng rổ quốc tế đầu tiên. 
Mỗi đội gồm 5 đấu thủ và 2 người dự bị được thay 2 lần trong trận đấu. Sau mỗi 
lần bóng vào rổ khi đang thi đấu hoặc khi ném phạt, trận đấu được tiếp tục bằng 
nhảy tranh bóng ở vòng tròn giữa sân. Luật bóng rổ , căn bản thì giống như luật 
của Mỹ với 1 ít thay đổi. FIBA đã quyết định cứ 4 năm luật bóng rổ được sửa đổi 
, theo chu kỳ của đại hội Olympic. Việc sửa đổi này được uỷ ban kỹ thuật thực 
hiện 
Giải Vô Địch Nam Châu Au đầu tiên được tổ chức năm 1935 ở Geneva. Có 10 
nước được chọn tham dự. Đội vô địch châu Au đầu tiên là đội Latvia ( Trong trận 
chung kết, Latvia thắng Spain 24 - 18 ). 
Năm 1935 ở Olso, uỷ ban Olympic thế giới họp đã chính thức chấp thuận cho 
bóng rổ được thi đấu ở Berlin. Đây là 1 giải bóng rổ lớn đầu tiên được tổ chức mà 
tính thống nhất của trận đấu đã được chứng tỏ. Đội Mỹ đã thắng đội Canada 19 - 
8 ( Trận đấu diễn ra dưới mưa ) đội Mỹ đoạt huy chương vàng. Ong James 
Naismith đã ở giữa khán gỉa và trao tặng huy chương cho những nhà vô địch 
 7 dụng, đội Sô Viết lần đầu tiên đã trình diễn 1 lối chơi gây ấn tượng ở Helsinki. 
Mọi người đều biết, cần thiết phải làm 1 điều gì đó nhưng không ai có 1 ý tưởng 
nào. Trận đấu đã trở nên nguy hiểm. 
Năm 1953 giải Vô Địch Châu Au lần thứ 1 của nữ được tổ chức tại Chile. 
Năm 1954, Ong Danny Biaston đã đưa ra một giải pháp hay và NBA giới thiệu 1 
luật mới : Một đội phải ném rổ trong vòng 24 giây. 
Năm 1956 ở Melbourne, một luật tương tự như thế cũng được chấp nhận. Thời 
gian cho 1 lần tấn công được giới hạn trong 30 giây và vấn đề của nghệ thuật giữ 
bóng đã được giải quyết. Khu vực ném phạt cũng được nới rộng thêm và một hình 
thang mới được áp dụng để giữ những đấu thủ cao lớn vẫn ở cách xa rổ. Ban kỹ 
thuật đã thiết lập lại sự cân bằng giữa tấn công và phòng thủ : Đòi hỏi người tấn 
công có bóng phải rời bóng trước khi nhấc bàn chân trụ để dẫn bóng. 
Nhảy ném rổ đã trở thành là 1 kỹ thuật thường được sử dụng nhất để ném rổ. Kỹ 
thuật ném rổ, chuyền bóng và dẫn bóng được sử dụng đa dạng phong phú. Chiến 
thuật cản người được phổ biến khắp nơi. Lối chơi liên quan đến 2 đấu thủ ( Bắt 
người ) được thay thế bằng lối chơi phòng thủ khu vực liên quan đến 5 đấu thủ, 
lối chơi này khó được thể hiện. 
Năm 1958 Cúp các CLB vô địch châu Au cho Nam đã được tổ chức và năm 1959 
tổ chức cho nữ. 
Năm 1960, hội nghị ở Rome, bỏ đường giữa sân và được lập lại đúng năm 1968 
ở Mexico. Trong 5 phút cuối , mỗi lỗi cá nhân bị phạt 2 quả ném phạt, với điều 
kiện là đấu thủ bị lỗi không ném bóng vào rổ. Nếu cả 2 đội cùng phạm lỗi mà có 
xử phạt giống nhau thì không cho ném phạt để giảm bớt những tình huống này 
khi có ném phạt ở cả 2 rổ. Khi những lần ném phạt không được hủy bỏ, tổng số 
lần ném phạt cho 1 hành động không được quá 2 quả phạt và được quyền phát 
bóng. Có nhiều sự khác nhau của các lần xử phạt đã gây khó khăn cho của trọng 
tài và đôi khi trọng tài ở trong tình huống khó khăn khi cân nhắc hủy bỏ lần ném 
phạt và số lần ném phạt còn lại. Luật dường như là quá rắc rối cho nên quyết định 
của trọng tài thường làm cho đấu thủ của cả 2 đội và khán giả không thể hiểu 
được. Năm 1964 ở Tokyo sự giới hạn của pha thi đấu được trình bày để xác định 
cái gì được cân nhắc là 1 hành động liên quan đến sự tính toán cho số lần 
 9 rổ, có cơ hội để ném quả phạt thứ 3 nếu 1 trong 2 quả ném phạt đầu không vào rổ. 
Trong trường hợp nếu lỗi vào người ném rổ và bóng vào rổ , được ném thêm 1 
quả phạt. 
Năm 1980, hội nghị ở Moscow cho phép 8 lỗi thay vì 10 lỗi đồng đội để giảm bớt 
hơn nửa số lỗi trong trận đấu. Lỗi kỹ thuật của những người đi theo đội đã tăng 
lên. Luật đã quyết định : Huấn luyện viên sẽ bị trục xuất khi bị ghi 3 lỗi kỹ thuật. 
Lần đầu tiên sách luật giải thích thế nào là va chạm cá nhân bị thổi phạt và làm 
sao để xác định đấu thủ chịu trách nhiệm cho sự va chạm : ( Nguyên tắc chiều cao 
thẳng đứng nói rằng : Khoảng không gian ở trên hình trụ của đấu thủ được bảo 
vệ; Đấu thủ ở trên không được quyền rơi xuống 1 vị trí khác mà vị trí này không 
bị chiếm trước khi anh ta nhảy lên; Thế nào làvị trí phòng thủ đúng luật và trái 
luật ; Xử phạt đẩy người và cản người ) 
Năm 1979 NBA giới thiệu quả ném rổ 3 điểm. Cùng một ý tưởng đó FIBA đã 
chấp thuận vào năm 1984, nhưng khoảng cách từ đường 3 điểm tới rổ là 6m25 
thay vì 7m24 như của NBA. Luật này đã mở ra một sự phân chia mới trong bóng 
rổ. Những đấu thủ có chiều cao thấp hơn có cơ hội tốt hơn để ghi điểm. Trận đấu 
không còn chỉ là dành riêng cho những người trung phong. Cũng trong thời gian 
này, sân thi đấu được mở rộng thêm : Chiều ngang thêm 1m và chiều dài thêm 
2m. Số lỗi đồng đội được giảm bớt từ 8 lỗi còn 7 lỗi. Xử phạt sau 7 lỗi đồng đội 
là ném phạt 1 thêm 1, đó là nếu 1 đấu thủ ném phạt quả thứ 1 không vào rổ thì 
không được ném tiếp quả thứ 2. Luật ném phạt “ 3 cho 2 “ được hủy bỏ. Nếu lỗi 
vào đấu thủ ném rổ ở vị trí 2 điểm thì ném 2 quả phạt, nếu lỗi vào đấu thủ ném rổ 
ở vị trí 3 điểm thì ném 3 quả phạt. Lỗi kỹ thuật của huấn luyện viên thì xử phạt 
nặng hơn : 2 quả ném phạt và cộng thêm lần phát bóng biên 
Năm 1986, Hội nghị thế giới quyết định mỗi đấu thủ phạm lỗi cố ý và lỗi trục xuất 
bị phạt 2 hoặc 3 quả ném phạt và đội kia được thêm quyền phát bóng biên. Điều 
luật này đã làm giảm bớt số lỗi kiểu này thường xảy ra vào thời gian đó. 
Năm 1990, quyền lựa chọn được hủy bỏ. Không có giới hạn số quả ném phạt được 
thực hiện trong 1 tình huống xảy ra . Trong trường hợp có nhiều lỗi xảy ra, trọng 
tài xác định thứ tự của các lỗi và xử phạt theo thứ tự lỗi xảy ra. Không còn 
 10 thay cho luật 1 thêm 1 là luật ném phạt 2 quả. Nếu 1 đấu thù, HLV, hoặc bất kỳ 1 
thành viên của đội mà bị trục xuất, họ phải rời sân thi đấu và ở trong phòng thay 
đồ của đội trong suốt trận đấu, hoặc nếu họ muốn, họ sẽ rời khỏi nhà thi đấu. 
Trong khi ném phạt chỉ có 6 đấu thủ được nhảy tranh cướp bóng bật trở lại : 3 đấu 
thủ phòng thủ và 2 đấu thủ tấn công ở dọc khu vực giới hạn và đấu thủ ném phạt. 
Các đấu thủ còn lại phải ơ.. sau đường ném phạt kéo dài và sau đường 3 điểm. 
Năm 1998 : Luât xác định rõ thêm về trường hợp bóng trở về sân sau . Thay đổi 
cách xử phạt lỗi hai bên : Khi xảy ra lỗi hai bên , nếu đội nào đang kiểm soát bóng 
, thì đội đó được phát bóng biên . Có thêm lỗi kỹ thuật phản tinh thần thể thao và 
có thay đổi trong cách cho ném phạt : Trong lần ném phạt quả thứ hai hoặc chỉ có 
một quả ném phạt sẽ do trọng tài trước trao bóng cho người ném phạt . Ở hai phút 
cuối của trận đấu , bóng vào rổ thì đồng hồ dừng lại . 
Ngày 8 tháng 5 năm 2000 , FIBA đã thông qua luật bóng rổ năm 2000 với 58 điều 
luật và có nhiều thay đổi . FIBA chính thức giới thiệu và áp dụng phương pháp 3 
trọng tài . thi đấu 4 hiệp . Luật 10 giây còn 8 giây . Luật 30 giây còn 24 giây và 
bóng phải chạm vòng rổ mới kết thúc một đợt 24 giây . Ở hai phút cuối của trận 
đấu khi bóng vào rổ thì được hội ý hoặc thay người . Lỗi kỹ thuật của đấu thủ 
chính thức ném một quả phạt và được phát bóng biên ở giữa sân . Lỗi đồng đội 
còn 4 lỗi . 
Ngày 1/9/2004 FIBA áp dụng cho 2 đội được thay người khi bóng chết. Lỗi Kỹ 
Thuật được ném 2 quả phạt 
Hiện nay , Bóng rổ là môn thể thao được chơi vàhâm mộ của hơn 250 triệu VĐV 
có đăng ký trên toàn thế giới. Bóng rổ là 1 gia đình đông nhất với 198 quốc gia là 
thành viên của FIBA. 
Bóng rổ là môn thể thao tốc độ , năng động, hấp dẫn và là môn thể thao thu hút 
nhiều người. Số điểm thay đổi mỗi phút làm cho trận đấu hấp dẫn từ đầu cho đến 
cuối trận đấu. Cám ơn những nét đặc trưng này của bóng rổ. Bóng rổ là 1 trong 
nhiều môn thể thao được mọi người ưa thích nhất trên thế giới và bóng rổ ngày 
càng phát triển và trở thành môn thể thao hiện đại . 
 12 

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_phuong_phap_tap_luyen_bong_ro_cho_hoc_sinh_nham.pdf